Đối với những người mới bắt đầu làm quen với kiến thức về máy biến áp, luôn có một số điểm kiến thức khó hiểu trong số lượng lớn các khái niệm cơ bản. Hoạt động không tải của máy biến áp Một trong số đó là hoạt động có tải của máy biến áp. Mặc dù có rất nhiều dữ liệu để giải thích hai khái niệm này một cách riêng biệt nhưng có rất ít dữ liệu để giải thích sự khác biệt giữa hai khái niệm này.
Máy biến áp chạy không tải
Hoạt động không tải của máy biến áp đề cập đến trạng thái làm việc khi cuộn sơ cấp của máy biến áp được nối với nguồn điện và cuộn thứ cấp mở. Lúc này dòng điện trong cuộn sơ cấp được gọi là dòng không tải của máy biến áp. Dòng điện không tải tạo ra từ trường không tải. Dưới tác dụng của từ trường chính (tức là từ trường của cuộn dây thứ nhất và thứ hai cùng lúc), suất điện động được sinh ra trong cuộn dây thứ nhất và thứ hai.
Khi máy biến áp ở chế độ không tải, mặc dù phía thứ cấp không có điện ra nhưng phía sơ cấp vẫn hấp thụ một phần công suất tác dụng từ lưới điện để bù đắp tổn thất trễ và tổn thất dòng điện xoáy do bão hòa từ thông trong lõi. Độ lớn của tổn thất trễ phụ thuộc vào tần số nguồn điện và diện tích vòng trễ của vật liệu lõi. Tổn hao dòng điện xoáy tỷ lệ với bình phương mật độ từ thông và tần số lớn. Ngoài ra còn có hiện tượng tiêu hao đồng do dòng điện không tải. Đối với các máy biến áp công suất khác nhau thì cường độ dòng điện không tải và tổn thất không tải là khác nhau.
Vận hành phụ tải máy biến áp
Hoạt động có tải của máy biến áp đề cập đến điều kiện làm việc khi cuộn sơ cấp được nối với điện áp nguồn và cuộn thứ cấp được nối với tải. Lúc này, phía thứ cấp của máy biến áp cũng có dòng điện chạy qua, mạch truy cập biến đổi ban đầu tương ứng lớn so với khi không tải, điện áp phía thứ cấp sẽ bị ảnh hưởng bởi tải và thay đổi.
Hoạt động tải định kỳ bình thường:
1. Máy biến áp có thể chạy ở dòng điện định mức quanh năm trong điều kiện sử dụng định mức.
2, máy biến áp cho phép tốc độ lão hóa tương đối trung bình nhỏ hơn hoặc bằng 1, trong trường hợp hoạt động dòng điện quá cố định định kỳ.
3, khi máy biến áp có khe hở nghiêm trọng (chẳng hạn như hệ thống làm mát bất thường, rò rỉ dầu nghiêm trọng, hiện tượng quá nhiệt cục bộ, kết quả phân tích bất thường về khí hòa tan trong dầu, v.v.) hoặc điểm yếu cách điện, không thích hợp để vượt quá hoạt động hiện tại cố định.
4, trong chế độ vận hành tải định kỳ bình thường, khi dòng điện vượt quá không đổi, hệ số tải cho phép K2 và thời gian có thể được xác định theo một trong các nguyên tắc tải.
Sự khác biệt giữa hai
Sự khác biệt chính giữa hoạt động không tải của máy biến áp và hoạt động có tải chủ yếu được thể hiện ở cuộn thứ cấp, cuộn thứ cấp hoạt động có tải của máy biến áp được nối với tải, tạo ra công suất lớn và cuộn thứ cấp hoạt động không tải được mở, tạo ra nguồn điện vi mô.
Máy biến áp sử dụng nguyên lý cảm ứng điện từ để thay đổi điện áp xoay chiều, thành phần chính là cuộn sơ cấp, cuộn thứ cấp và lõi (core). Nó thường được sử dụng trong các thiết bị điện và mạch không dây như điện áp nâng, trở kháng phù hợp, cách ly hoàn toàn, v.v. Khi máy biến áp ở chế độ không tải, nó chỉ tiêu thụ tổn hao không tải, tức là tổn thất sắt và đi lạc, tức là tổng công suất của hoạt động 6 tải là tổn thất không tải + tổn thất tải, nghĩa là tổn thất đồng là tổng mức tiêu thụ của máy biến áp.
Bài viết này lần lượt giới thiệu hoạt động không tải và hoạt động có tải của máy biến áp, đồng thời giải thích chi tiết sự khác biệt giữa hai hoạt động này sau khi hoàn thành nền tảng kiến thức cơ bản, đây là một bài viết rất phù hợp cho người mới bắt đầu đọc. Tôi hy vọng rằng những người bạn có thắc mắc về không tải và tải có thể giải quyết sự nhầm lẫn sau khi đọc bài viết này.
